Thu, Apr 9
AI Trực tuyến
Series (6)
Axial C+ portal venous phase

CT•Axial C+ portal venous phase•1 / 111
Ca bệnhUng thư tế bào gan đường mật
Ung thư tế bào gan đường mật
Nguồn gốc
Dữ liệu bệnh nhân
Tuổi70 year
Giới tínhMale
Bệnh sử lâm sàng
Đau bụng.
Chẩn đoán & Phát hiện
- Các ống mật trong gan giãn nhẹ, các ống mật ngoài gan có kích thước bình thường.
- Phát hiện khối giảm tăng quang, giới hạn không rõ (ill-defined hypoenhancing mass) kích thước 65 × 60 mm ở vùng gan trung tâm.
- Ngoài ra, thấy nhiều khối nhỏ tăng quang kém rải rác khắp nhu mô gan.
- Thấy một vài nang đơn thuần (simple cysts) ở vỏ thận (cortical cysts), kích thước dưới 1 cm.
- Tuyến tiền liệt to.
- Các tổn thương thoái hóa cột sống thắt lưng dạng gai xương (osteophytosis).
- Hiện diện thoát vị bẹn phải (right inguinal hernia).
[DISCUSSION]
Trường hợp đã được chứng minh bằng giải phẫu bệnh là ung thư tế bào gan đường mật (cholangiocarcinoma), đây là loại ung thư nguyên phát thứ hai phổ biến nhất ở gan và đường mật sau ung thư tế bào gan (hepatocellular carcinoma – HCC). Bệnh thường có tiên lượng xấu và tỷ lệ biến chứng cao.
Chẩn đoán
- Khối ở gan phải đặc điểm giảm tăng quang, giới hạn không rõ, kích thước 65 × 60 mm, kèm theo nhiều tổn thương nhỏ rải rác trong gan, phù hợp với ung thư tế bào gan đường mật (cholangiocarcinoma) và di căn nội gan (intrahepatic metastasis).
- Không thấy hình ảnh (no evidence of) tắc mật rõ ở đoạn ngoài gan.
- Chẩn đoán: Ung thư tế bào gan đường mật (cholangiocarcinoma).
Chẩn đoán phân biệt
- 1.Ung thư tế bào gan
- 2.U tuyến di căn đến gan
- 3.Áp xe gan
Điểm giảng dạy
- "Ung thư tế bào gan đường mật thường biểu hiện là khối giảm tăng quang, giới hạn không rõ trên hình ảnh cắt lớp có tiêm thuốc cản quang, thường kèm giãn ống mật."
- "Ung thư tế bào gan đường mật trong gan có thể bắt chước các tổn thương gan khác, do đó việc xác nhận chẩn đoán bằng sinh thiết mô bệnh học là cần thiết."
- "Mặc dù là khối u nguyên phát thứ hai phổ biến nhất ở gan, ung thư tế bào gan đường mật có tiên lượng xấu do thường được chẩn đoán muộn và các lựa chọn điều trị hạn chế."
Thảo luận
Ung thư tế bào gan đường mật là khối u ác tính xuất phát từ biểu mô đường mật, được phân loại thành các dạng trong gan, cửa gan và đoạn xa dựa trên vị trí giải phẫu. Dạng trong gan, như trường hợp này, biểu hiện là tổn thương hình khối trong nhu mô gan và thường được phát hiện tình cờ hoặc do các triệu chứng không đặc hiệu như đau bụng. Chẩn đoán hình ảnh thường cho thấy khối giảm tăng quang, giới hạn không rõ, có tăng quang muộn, đôi khi kèm theo giãn ống mật. Chẩn đoán phân biệt bao gồm ung thư tế bào gan, đặc biệt ở bệnh nhân xơ gan, và các tổn thương di căn, nhất là từ các khối u nguyên phát ở đường tiêu hóa. Các dấu ấn khối u như CA 19-9 có thể tăng nhưng không đặc hiệu. Chẩn đoán xác định cần sinh thiết mô bệnh học. Điều trị bao gồm phẫu thuật cắt bỏ nếu khả thi, nhưng phần lớn các trường hợp được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, làm hạn chế khả năng chữa khỏi. Tiên lượng vẫn xấu, với tỷ lệ sống sau 5 năm dưới 30% ngay cả trong các trường hợp có thể phẫu thuật.
Bài viết liên quan
Ca bệnh liên quan

Distal Cholangiocarcinoma (Ung thư biểu mô tế bào gan đoạn xa)

Biliary Stenting for Lower Common Bile Duct Cholangiocarcinoma (Đặt stent đường mật – ung thư biểu mô ống mật chủ đoạn dưới)

Cholangiocarcinoma (Ung thư tế bào ống mật (Cholangiocarcinoma))

Klatskin Tumor (U Klatskin)

Cholangiocarcinoma with Biliary Obstruction and Portal Vein Invasion (Ung thư đường mật)

Hepatic Carcinoid (Ung thư tuyến nội tiết gan)





