Series (10)
Axial T2

Tuyến thượng thận - dạng nghèo lipid
Nguồn gốc
Dữ liệu bệnh nhân
Bệnh sử lâm sàng
Các xét nghiệm chức năng gan bất thường. Phát hiện tổn thương trên siêu âm.
Chẩn đoán & Phát hiện
-
Một tổn thương kích thước 5,4 x 4,0 cm ở phân đoạn gan 7/6, hơi tăng tín hiệu (hyperintense) so với nhu mô gan trên hình ảnh T2, và đồng tín hiệu (isointense) trên T1.
-
Tín hiệu không giảm trên hình ảnh T1 out-of-phase (khác với phần nhu mô gan xung quanh do gan nhiễm mỡ nhẹ).
-
Tổn thương cho thấy tăng quang động mạch, sau đó washout ở thì tĩnh mạch cửa và thì muộn, kèm theo vỏ giả mỏng.
-
Không có bắt thuốc ở thì gan tế bào (hepatocellular phase).
-
Một tổn thương 1 cm, tăng tín hiệu trên T2, nằm ở vùng ngoại vi phân đoạn 5. Tổn thương này cho thấy tăng quang động mạch, sau đó trở nên đồng tín hiệu với gan ở các thì tiếp theo, bao gồm cả thì gan tế bào.
-
Một tổn thương 8 mm, tăng tín hiệu trên T2, ở phân đoạn 7, cho thấy tăng quang ngoại vi tiến triển, và không bắt thuốc ở thì gan tế bào.
-
Ống gan chung và ống mật chủ có đường kính tối đa 7 mm, có thể phản ánh tình trạng sau mổ cắt nang. Không thấy sỏi ống mật chủ (choledocholithiasis).
-
Tụy có hình ảnh bình thường.
-
Một tổn thương kích thước 1,8 x 0,9 cm nằm phía sau phân đoạn 6, trong túi Morrison (Morrison's pouch). Tổn thương này tăng tín hiệu trên T2, có thể có tăng quang viền. Khả năng cao là dịch ứ còn sót lại. Ngoài ra, có các ổ dịch ứ nhỏ khác xung quanh bề mặt trước và bên của gan, cũng như quanh đầu tụy.
-
Ở cơ thành bụng bên phải, giữa cơ obturator internus và cơ transversus abdominis, thấy một vùng phức tạp, tăng tín hiệu trên T2, kích thước 9 x 4 cm, khả năng cao là ổ dịch ứ (collection). Tổn thương này chỉ rõ trên hình ảnh cắt ngang (coronal), nhưng phần trên cũng thấy được trên hình ảnh cắt ngang có tiêm thuốc (axial post-contrast), và có vẻ tăng quang viền. Hình ảnh này tương tự như trên CT ngày 7 tháng 6 năm 2014.
-
Tổn thương lớn ở phân đoạn 7/6 nghi ngờ là tuyến thượng thận dạng nghèo lipid (lipid-poor hepatic adenoma), trên nền gan nhiễm mỡ.
-
Tổn thương nhỏ ở phân đoạn 5 khả năng là tăng sản nốt khu trú (focal nodular hyperplasia - FNH).
-
Các ổ dịch ứ còn tồn tại ở túi Morrison, quanh đầu tụy, và trong thành bụng phải.
DISCUSSION:
Ca này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định các thay đổi nền ở nhu mô gan trước khi định tính tổn thương. Với các tuyến thượng thận giàu lipid, chúng ta kỳ vọng tổn thương sẽ giảm tín hiệu so với gan trên hình ảnh T1 out-of-phase. Tuy nhiên, trong trường hợp này, tổn thương lại hơi tăng tín hiệu vì nhu mô gan nhiễm mỡ xung quanh đã mất tín hiệu, trong khi tuyến thượng thận nghèo lipid lại giữ nguyên tín hiệu.
Mô hình tăng quang – tăng quang động mạch, washout, và không bắt thuốc ở thì gan tế bào – giúp phân biệt với tăng sản nốt khu trú (FNH).
Tổn thương này là tình cờ phát hiện, không liên quan trực tiếp đến các xét nghiệm chức năng gan bất thường của bệnh nhân.
Chẩn đoán
Tuyến thượng thận - dạng nghèo lipid (Hepatic adenoma - lipid-poor)
Chẩn đoán phân biệt
- 1.Tăng sản nốt khu trú (FNH)
- 2.Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC)
- 3.Di căn tưới máu phong phú
Điểm giảng dạy
- "U tuyến gan nghèo lipid có thể không giảm tín hiệu trên cộng hưởng từ T1 out-of-phase do tổn thương giữ nguyên tín hiệu trong khi nhu mô gan nhiễm mỡ xung quanh mất tín hiệu."
- "Tăng quang động mạch kèm washout và không bắt thuốc ở thì gan tế bào là các đặc điểm phân biệt u tuyến gan với tăng sản nốt khu trú."
- "Gan nhiễm mỡ nền có thể bắt chước hoặc che giấu đặc điểm hình ảnh của tổn thương gan, đòi hỏi so sánh cẩn thận với nhu mô xung quanh."











