Thu, Apr 9
AI Trực tuyến
Series (3)
Coronal C+ arterial phase

CT•Coronal C+ arterial phase•1 / 57
Ca bệnhThông liên nhĩ lỗ thứ phát (secundum ASD)
Thông liên nhĩ lỗ thứ phát (secundum ASD)
Nguồn gốc
Dữ liệu bệnh nhân
Tuổi25 year
Giới tínhFemale
Bệnh sử lâm sàng
Khó thở.
Chẩn đoán & Phát hiện
- Thông liên nhĩ lỗ thứ phát (secundum atrial septal defect).
- Hẹp van động mạch phổi, đã thực hiện nong van động mạch phổi bằng bóng (s/p balloon pulmonary valvuloplasty).
- Động mạch phổi chính (main pulmonary artery) giãn.
- Hẹp đoạn gần động mạch phổi trái (proximal left pulmonary artery).
- Thất phải (right ventricle) giãn.
DISCUSSION:
Có 4 loại thông liên nhĩ (atrial septal defect):
- lỗ thứ nhất (primum),
- lỗ thứ hai (secundum),
- xoang tĩnh mạch (sinus venosus),
- xoang vành không nóc (unroofed coronary sinus).
Trường hợp này là ví dụ điển hình của thông liên nhĩ lỗ thứ hai (secundum ASD), đây là dạng phổ biến nhất.
Chẩn đoán
Thông liên nhĩ lỗ thứ hai (secundum ASD)
Chẩn đoán phân biệt
- 1.Thông liên nhĩ lỗ thứ nhất (primum ASD)
- 2.Thông liên nhĩ xoang tĩnh mạch (sinus venosus ASD)
- 3.Tăng áp động mạch phổi kèm giãn tim phải
- 4.Hẹp động mạch phổi bẩm sinh
Điểm giảng dạy
- "Thông liên nhĩ lỗ thứ hai là dạng phổ biến nhất của thông liên nhĩ, nằm ở vùng hố bầu dục."
- "Tình trạng shunt trái sang phải mạn tính qua thông liên nhĩ gây quá tải thể tích tâm nhĩ phải và tâm thất phải, dẫn đến giãn tim phải."
- "Cần đánh giá các biến đổi sau nong van động mạch phổi bằng bóng và các bất thường động mạch phổi còn tồn tại ở bệnh nhân đã được điều trị hẹp van phổi."
Thảo luận
Thông liên nhĩ lỗ thứ hai (ASD) là một dị tật tim bẩm sinh đặc trưng bởi một lỗ thông bất thường ở vách liên nhĩ tại vùng hố bầu dục. Dạng này chiếm khoảng 70% các trường hợp thông liên nhĩ và phổ biến hơn ở nữ giới. Tình trạng shunt trái sang phải kéo dài gây quá tải thể tích các buồng tim bên phải, dẫn đến giãn dần tâm nhĩ phải và tâm thất phải, cùng với tuần hoàn phổi tăng. Theo thời gian, điều này có thể dẫn đến tăng áp động mạch phổi và trong các trường hợp nặng, phát triển thành hội chứng Eisenmenger. Chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là siêu âm tim và cộng hưởng từ tim, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chẩn đoán và đánh giá mức độ shunt. Đóng lỗ thông bằng dụng cụ qua da thường được chỉ định ở bệnh nhân có triệu chứng hoặc có dấu hiệu giãn tim phải. Các phát hiện đi kèm như biến đổi sau nong van và hẹp động mạch phổi phân nhánh cần được đánh giá kỹ lưỡng vì có thể ảnh hưởng đến điều trị và tiên lượng.





