Thu, Apr 9
AI Trực tuyến
Series (3)
Axial C+ portal venous phase

CT•Axial C+ portal venous phase•1 / 91
Ca bệnhUng thư biểu mô đường niệu của bàng quang
Ung thư biểu mô đường niệu của bàng quang
Nguồn gốc
Dữ liệu bệnh nhân
Tuổi70 year
Giới tínhFemale
Bệnh sử lâm sàng
Tiểu máu đại thể và tiểu khó trong hai tháng qua.
Chẩn đoán & Phát hiện
- Một khối ngấm thuốc (enhancing mass) dạng polyp trong lòng mạch (intraluminal) kích thước 40 mm được ghi nhận ở mặt sau bên phải của bàng quang, có liên quan nhưng không gây tắc nghẽn lỗ niệu quản - bàng quang bên phải.
- Lớp mỡ quanh bàng quang còn nguyên vẹn, và không phát hiện bệnh lý hạch (lymphadenopathy) vùng.
- Các nang vỏ thận đơn thuần, nhỏ, không ngấm thuốc với đường kính tối đa 15 mm được thấy ở cả hai thận.
- Vài hạch vôi hóa được thấy ở vùng cạnh động mạch chủ và vùng rốn gan.
- Bóng tim lớn hiện diện trong các phần khảo sát được của ngực dưới.
[DISCUSSION] Ung thư biểu mô đường niệu của bàng quang đã được chứng minh bằng giải phẫu bệnh, đây là loại tân sinh nguyên phát phổ biến nhất của bàng quang và là khối u (tumor) phổ biến nhất của toàn bộ hệ tiết niệu.
Đối với phân độ giai đoạn TNM, mặc dù CT không thể phân biệt giữa T1, T2 và T3a (lan rộng ngoài bàng quang vi thể), nó có thể phân biệt các khối u T3b (thâm nhiễm dạng
Chẩn đoán
Urothelial cell carcinoma of the urinary bladder
Chẩn đoán phân biệt
- 1.Ung thư biểu mô tuyến của bàng quang
- 2.Ung thư biểu mô vảy của bàng quang
- 3.Di căn đến bàng quang
Điểm giảng dạy
- "Ung thư biểu mô đường niệu là khối u ác tính phổ biến nhất ở bàng quang và thường khởi phát với triệu chứng tiểu máu đại thể không đau."
- "Chụp CT có thể xác định đáng tin cậy các giai đoạn T3b (xâm lấn vào mô mỡ quanh bàng quang) và T4 (xâm lấn cơ quan lân cận) nhưng không thể phân biệt được các khối u T1, T2 và T3a."
- "Chụp MRI vượt trội hơn CT trong đánh giá giai đoạn cục bộ ung thư bàng quang, đặc biệt là phân biệt khối u T1 và T2 bằng hình ảnh cộng hưởng từ trọng T2."
Thảo luận
Ung thư biểu mô đường niệu, trước đây gọi là ung thư biểu mô chuyển tiếp, chiếm hơn 90% các trường hợp ung thư bàng quang và khởi phát từ lớp biểu mô lót đường tiết niệu. Bệnh có liên quan mạnh với hút thuốc và tiếp xúc nghề nghiệp với các amin thơm. Trên hình ảnh học, khối u thường xuất hiện như một khối ngấm thuốc trong lòng bàng quang, hay gặp ở vùng tam giác hay thành bên bàng quang. Mặc dù chụp CT niệu quản rất tốt để phát hiện và đánh giá đường tiết niệu trên, nhưng nó có hạn chế trong việc xác định chính xác giai đoạn cục bộ. Chụp MRI, với độ tương phản mô mềm cao, cho phép đánh giá tốt hơn mức độ xâm lấn của khối u vào thành bàng quang – yếu tố then chốt trong lập kế hoạch điều trị. Việc không thấy hình ảnh thâm nhiễm hay hạch to quanh bàng quang trong trường hợp này gợi ý khối u chưa xâm lấn sâu (có thể ≤ giai đoạn T2). Các hạch vôi hóa ở vùng cạnh động mạch chủ và rốn gan có thể là dấu hiệu của bệnh u hạt (ví dụ: lao cũ hoặc nấm histoplasma) hơn là di căn, đặc biệt ở các vùng lưu hành bệnh.



