Series (4)
Sagittal (C+ portal venous phase)

U biểu mô niệu thận ghép liên quan đến Polyomavirus
Dữ liệu bệnh nhân
Bệnh sử lâm sàng
Suy thận, đang chạy lọc màng bụng với thận ghép ở hố chậu phải (RIF) bị thất bại. Tiểu máu trong vài ngày và hiện đang bị thiếu máu.
Chẩn đoán & Phát hiện
Chú giải chưa gắn khảo sát
- Đầu catheter lọc màng bụng nằm trong vùng chậu. Thể tích dịch cổ trướng có khả năng liên quan đến việc lọc màng bụng gần đây.
- Thận ghép ở hố chậu phải (RIF) cho thấy một khối đặc (solid mass) dạng thùy (lobulated) nằm trong bể thận và niệu quản đoạn gần, kích thước 53 x 45 x 53 mm kèm theo thận ứ nước (hydronephrosis) và teo não (atrophy) thận nặng liên quan.
- Có chất tăng tỷ trọng (hyperdense) không đồng nhất nằm thấp trong bàng quang, có thể là cục máu đông, không có ranh giới rõ rệt để gợi ý tổn thương thành bàng quang.
- Thận tự nhiên đa nang, không có tổn thương thận ngấm thuốc (enhancing) rõ rệt, do có nhiều nang lan tỏa, bao gồm nhiều nang tăng tỷ trọng (hyperdense).
- Chất tăng tỷ trọng (hyperdense) trong manh tràng, phía trong so với thận ghép, đã tồn tại từ lâu và không có ý nghĩa lâm sàng.
- Nhiều nang gan, và các thay đổi nền của xơ gan.
- Kích thước lách bình thường.
- Không có bất thường khu trú nào khác ở các cơ quan đặc.
- Tĩnh mạch cửa thông thoáng (patent).
- Tràn dịch màng phổi hai bên ổn định và xẹp phổi vùng đáy.
Impression Khối ngấm thuốc (enhancing) dạng thùy (lobulated) lớn trong bể thận của thận ghép ở hố chậu phải (RIF), lan vào niệu quản của người hiến, kèm theo khả năng thận ứ nước (hydronephrosis) mạn tính. Đây là một khối u (neoplasm) và cần được đánh giá bởi chuyên khoa tiết niệu.
DISCUSSION: Ung thư biểu mô niệu liên quan đến Polyomavirus là một khối u (neoplasm) hiếm gặp chỉ thấy ở những bệnh nhân ghép thận.
Tỷ lệ ung thư đường tiết niệu ở người nhận ghép thận cao hơn từ 4–10 lần so với dân số chung 1. Polyomavirus BK (BKPyV) hiện diện ở 80–90% người trưởng thành không đối xứng. Tuy nhiên, ở tối đa 40% người nhận ghép thận, BKPyV được kích hoạt và dẫn đến bệnh thận do polyomavirus và tăng nguy cơ u biểu mô niệu mảnh ghép 1.
Các trường hợp này thường được khởi đầu bằng tình trạng nhiễm virus polyomavirus trong máu và bệnh thận do polyomavirus, và độ tuổi khởi phát trung bình là 8,5 năm sau khi ghép 1.
Chẩn đoán
U biểu mô niệu thận ghép liên quan đến Polyomavirus
Chẩn đoán phân biệt
- 1.Ung thư biểu mô niệu của thận ghép
- 2.Ung thư tế bào thận trong ghép
- 3.Khối viêm do viêm thận bể thận mạn tính
Điểm giảng dạy
- “Ung thư biểu mô niệu liên quan đến Polyomavirus là một khối u hiếm gặp chỉ xuất hiện ở người nhận ghép thận.”
- “Tỷ lệ ung thư đường tiết niệu ở bệnh nhân ghép thận cao hơn đáng kể (4–10 lần) so với dân số chung.”
- “Vi rút Polyomavirus BK (BKPyV) được kích hoạt ở tới 40% người nhận ghép thận và có liên quan đến bệnh thận cũng như tăng nguy cơ u biểu mô niệu ở mảnh ghép.”
- “Bệnh lý này thường đi trước bởi tình trạng nhiễm virus polyomavirus trong máu và bệnh thận do polyomavirus, với độ tuổi khởi phát trung bình là 8,5 năm sau khi ghép.”

