Mon, Jun 29
AI Trực tuyến
Series (5)
Sagittal (C+ portal venous phase)

CT•Sagittal (C+ portal venous phase)•1 / 91
Ca bệnhMalakoplakia bàng quang
Malakoplakia bàng quang
Nguồn gốc
Dữ liệu bệnh nhân
Tuổi85
Giới tínhF
Bệnh sử lâm sàng
- Hematuria gián đoạn không đau trong 5 tháng.
- Không có dấu hiệu hoặc triệu chứng nhiễm trùng đường tiểu (UTI).
- Nhiều tổn thương rắn nhỏ trong bàng quang được phát hiện qua nội soi bàng quang (cystoscopy).
Chẩn đoán & Phát hiện
DISCUSSION:
- Nhiều tổn thương siêu nhỏ, nằm trên bề mặt, tăng ngấm thuốc (enhancing) trong bàng quang trên CT, nghi ngờ đa tâm TCC (transitional cell carcinoma).
- Nội soi bàng quang cho thấy nhiều nốt dạng nốt (nodular) nhỏ.
- Đã lấy mẫu sinh thiết; kết quả mô học cho thấy malakoplakia.
- Không có bằng chứng của CIS (carcinoma in situ) hoặc ung thư xâm lấn.
Chẩn đoán
Malakoplakia bàng quang (urinary bladder malakoplakia)
Chẩn đoán phân biệt
- 1.Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp (TCC)
- 2.Carcinoma tại chỗ (CIS)
- 3.Viêm bàng quang nang (Cystitis cystica)
Điểm giảng dạy
- "Malakoplakia là bệnh hạt mạn tính hiếm gặp do nhiễm khuẩn, thường là E. coli."
- "Bệnh lâm sàng và hình ảnh giống như ác tính như ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp (TCC)."
- "Chẩn đoán xác định dựa trên mô bệnh học, đặc trưng bởi các thể Michaelis-Gutmann."
- "Trên hình ảnh, tổn thương thường xuất hiện như nhiều nốt rắn, nhỏ, tăng cường độ ở thành bàng quang."
Thảo luận
Malakoplakia bàng quang là một tình trạng viêm hiếm gặp do hoạt động của thực bào bị suy giảm trong phản ứng với nhiễm khuẩn mạn tính, thường là Escherichia coli. Bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến phụ nữ và thường biểu hiện bằng tiểu máu hoặc các triệu chứng kích thích đường tiết niệu, rất giống với ác tính bàng quang. Các phương pháp hình ảnh như CT hoặc MRI thường cho thấy nhiều tổn thương dạng mảng hoặc nốt, đặc, tăng ngấm thuốc ở thành bàng quang, rất khó phân biệt với ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp (TCC) hoặc carcinoma tại chỗ (CIS). Nội soi bàng quang thường thấy nhiều nốt hoặc mảng mềm màu vàng nâu. Chẩn đoán xác định dựa trên xét nghiệm mô bệnh học, phát hiện các đại thực bào von Hansemann và các bao gồm tế bào chất nền tính kiềm đặc hiệu gọi là thể Michaelis-Gutmann. Điều trị bao gồm dùng kháng sinh kéo dài và can thiệp phẫu thuật hiếm khi cần thiết.