Series (6)
Axial (fistulography)

Fistula pericardiocutaneous sau chấn thương
Dữ liệu bệnh nhân
Bệnh sử lâm sàng
- Cơ chế chấn thương: Vết đâm vào bụng dưới xiphisternum.
- Khám lâm sàng: Bụng lỏng.
- Dấu hiệu sinh tồn: Độ bão hòa oxy 97%.
Chẩn đoán & Phát hiện
Chú giải chưa gắn khảo sát
DISCUSSION: Trường hợp này mô tả một fistula pericardiocutaneous sau chấn thương rất hiếm. Theo kiến thức hiện tại, không có trường hợp tương tự do chấn thương xâm nhập được báo cáo trong tài liệu. Điều này có thể do tỷ lệ tử vong cao liên quan đến chấn thương xâm nhập tim và các mạch máu lớn, với nhiều bệnh nhân tử vong trước khi có thể thực hiện chụp ảnh.
May mắn là, mặc dù vết đâm đã xuyên qua pericardium, không có thương tổn tim hoặc mạch máu lớn liên quan. Thay vào đó, một ống fistula đã hình thành giữa da và khoang pericardial. Vì bệnh nhân ổn định về huyết động, bệnh được quản lý bảo tồn, và không cần can thiệp phẫu thuật.
Chỉ có một vài trường hợp fistula pericardiocutaneous đã được mô tả trong tài liệu, hầu hết là biến chứng sau phẫu thuật, đặc biệt là sau thay van động mạch chủ qua da (TAVR). Trong bối cảnh này, fistula là biểu hiện hiếm gặp của nhiễm trùng vị trí phẫu thuật. Do gần tim, có nguy cơ lan truyền nhiễm trùng tới các cấu trúc tim lân cận hoặc vật liệu giả, có thể dẫn đến các biến chứng đe dọa tính mạng.
Co‑tác giả trường hợp: Dr. Ali Elsayed Abdelsalam, Cư dân Chẩn đoán và Can thiệp Hình ảnh tại Bệnh viện Giảng dạy Kasr Alainy.
Chẩn đoán
Fistula pericardiocutaneous sau chấn thương (Post‑traumatic pericardiocutaneous fistula)
Chẩn đoán phân biệt
- 1.Fistula pericardiocutaneous sau phẫu thuật
- 2.Tràn dịch màng ngoài tim sau chấn thương có dẫn lưu
- 3.Lối nhiễm vách ngực
Điểm giảng dạy
- “Fistula pericardiocutaneous sau chấn thương là một tình trạng cực kỳ hiếm gặp, thường không được báo cáo do tỷ lệ tử vong cao trước khi chụp ảnh của chấn thương tim xâm nhập.”
- “Quản lý bảo tồn là khả thi nếu bệnh nhân ổn định về huyết động và không có thương tổn tim hoặc mạch máu lớn.”
- “Hầu hết các trường hợp fistula pericardiocutaneous được báo cáo là biến chứng sau phẫu thuật (ví dụ: sau TAVR) liên quan đến nhiễm trùng vị trí phẫu thuật, thay vì do chấn thương nguyên phát.”