Chấn thương khớp cùng đòn, thường được gọi tắt là chấn thương khớp AC hoặc ACJ, được đặc trưng bởi tổn thương khớp cùng đòn và các cấu trúc xung quanh. Hầu như luôn có nguyên nhân do chấn thương, mức độ từ bong gân nhẹ đến đứt hoàn toàn.
Dịch tễ học
Chấn thương khớp cùng đòn có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất ở nhóm tuổi 20-40, phổ biến hơn gấp năm lần ở nam so với nữ. Đây là một chấn thương thường gặp trong các môn thể thao đối kháng ở vận động viên nam trẻ tuổi 9.
Triệu chứng lâm sàng
Bệnh nhân có thể biểu hiện đau vai và sưng nề không đặc hiệu. Biến dạng rõ thấy được là hiếm gặp. Các chấn thương mức độ thấp thường dễ bị bỏ sót cả về lâm sàng lẫn hình ảnh học. Đau có thể được gây ra khi thực hiện nghiệm pháp ép chủ động O'Brien và/hoặc nghiệm pháp chéo người 9.
Bệnh sinh
Có hai cơ chế chính gây chấn thương khớp cùng đòn 7,9:
-
Trực tiếp: chấn thương trực tiếp hoặc ngã đè lên vai với cánh tay ở tư thế khép, tạo lực hướng lên trên tác động vào mỏm cùng vai, trong khi đầu xương đòn bị giới hạn di chuyển tại khớp ức đòn, dẫn đến mỏm cùng vai bị đẩy mạnh xuống dưới và vào trong so với xương đòn
-
Gián tiếp: có thể xảy ra do ngã chống tay hoặc khuỷu tay xuống đất, dẫn đến xương cánh tay bị đẩy vào mỏm cùng vai, từ đó gây ra các tổn thương mức độ thấp hơn, thường chỉ ảnh hưởng đến dây chằng AC mà không tổn thương dây chằng quạ đòn
Phân loại
Hình ảnh học có thể được sử dụng để phân loại chấn thương khớp cùng đòn, trong đó hệ thống Rockwood được sử dụng phổ biến nhất để phân loại thành sáu loại. Các hệ thống phân loại khác bao gồm hệ thống Tossy và hệ thống Allman.
Đặc điểm trên X-quang
Trong hầu hết các trường hợp, X-quang thường quy (bao gồm cả tư thế nách) là đủ để phân loại chính xác, mặc dù CT hoặc MRI có thể hữu ích trong những trường hợp mà X-quang thường quy được cho là đánh giá thấp mức độ tổn thương.
X-quang thường quy
X-quang khớp cùng đòn tiêu chuẩn bao gồm bộ phim xương đòn, gồm tư thế trước-sau (AP) và tư thế chếch đầu (10-15º). Các tư thế X-quang căng cơ (có treo trọng lượng) có thể hữu ích nếu:
-
X-quang ban đầu bình thường nhưng nghi ngờ có chấn thương
-
cân nhắc can thiệp phẫu thuật trong chấn thương loại III (xem phần dưới) 7
Các tư thế này được thực hiện với bệnh nhân đứng và cầm quả tạ trong tay. Nếu khớp bình thường, thì sự đối xứng và liên kết của khớp cùng đòn phải được duy trì.
Các đặc điểm của chấn thương khớp cùng đòn bao gồm 6:
-
Sưng mô mềm/đường vân mô mềm
-
Có thể là dấu hiệu duy nhất trong chấn thương loại I
-
Dãn rộng khớp cùng đòn
-
Bình thường: 5-8 mm (hẹp hơn ở người cao tuổi)
-
Chênh lệch bất đối xứng lớn hơn 2-4 mm (so với bên đối diện)
-
Khoảng cách quạ đòn tăng
-
Bình thường: 10-13 mm
-
Chênh lệch bất đối xứng lớn hơn 5 mm (so với bên đối diện)
-
Di lệch hướng trên của đầu xa xương đòn
-
Bờ dưới của mỏm cùng vai phải ngang bằng với bờ dưới của xương đòn
Điều trị và tiên lượng
Việc điều trị chủ yếu phụ thuộc vào tuổi, lối sống của bệnh nhân và loại chấn thương theo phân loại Rockwood. Khoảng 80% (khoảng 70-90%) chấn thương khớp cùng đòn là "mức độ thấp" 9. Nói chung, các loại I và II được điều trị bảo tồn, các loại IV, V và VI được điều trị phẫu thuật, còn chấn thương loại III thì có thể điều trị khác nhau 4.
-
Loại I và II: điều trị bảo tồn bao gồm chườm lạnh, dùng thuốc giảm đau và nghỉ ngơi vai bằng nẹp đeo
-
Loại III: bằng chứng hiện tại không ủng hộ việc can thiệp phẫu thuật cho chấn thương loại III một cách thường quy; việc lựa chọn bệnh nhân loại III nào cần phẫu thuật là khó khăn, nhưng những bệnh nhân đặc biệt gầy, cần phạm vi vận động lớn hoặc thường xuyên nâng vật nặng có thể được lợi từ phẫu thuật 4,5
-
Loại IV-VI: cố định nội thường được thực hiện bằng nẹp móc, trong hầu hết các trường hợp cần phải tháo bỏ sau này. Dây K cũng đã được sử dụng, mặc dù hiếm gặp nhưng có trường hợp dây di chuyển vào cơ quan nội tạng, khiến nhiều phẫu thuật viên ngần ngại sử dụng 4
Biến chứng
Tương tự như chấn thương các khớp khác, trật khớp cùng đòn trước đó làm tăng nguy cơ thoái hóa khớp. Các biến chứng sau phẫu thuật bao gồm di chuyển vật liệu cố định và nhiễm trùng.
Các điểm thực hành
Ngoài việc nhận xét có hay không trật khớp/trật khớp một phần, cần kiểm tra và nhận xét một số đặc điểm sau:
-
Có sưng mô mềm hay không
-
Mức độ trật khớp một phần của xương đòn
-
Loại II: bờ dưới xương đòn không nâng cao quá bờ trên mỏm cùng vai
-
Loại III: bờ dưới xương đòn nâng cao quá bờ trên mỏm cùng vai, nhưng khoảng cách quạ đòn không tăng rõ (ít hơn hai lần bình thường)
-
Loại V: nâng cao rõ rệt hướng trên của xương đòn với khoảng cách quạ đòn lớn hơn hai lần bình thường
-
Hướng của trật khớp (dùng tư thế nách)
-
Hướng sau vào cơ thang: loại IV
-
Hướng dưới xuống dưới mấu quạ: loại VI
-
Có gãy xương nào không
-
Liên kết khớp cánh tay-ổ chảo
Cần kiểm tra cẩn thận vùng ngoại vi của hình ảnh để đảm bảo không bỏ sót gãy sườn, tràn khí màng phổi hay các tổn thương phổi, trung thất hoặc xương tình cờ khác. Những tổn thương này thường không thuộc nhóm "âm tính có liên quan", do đó không cần phải nhận xét.
Xem thêm
- trật khớp chi trên
[SOURCE]https://radiopaedia.org/articles/acromioclavicular-joint-injury-1[/SOURCE]